Chịu trách nhiệm | Trạch Quần, Tòa án Nhị Trung Thượng Hải
Biên tập nội dung | Lý Phùng, Từ Hán Thành
Biên tập trang | Chu Yên Vũ
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, Hội Nghiên cứu Luật Hình sự Trung Quốc, Tòa án Nhất Thượng Thượng Hải hướng dẫn, Tòa án Nhị Thượng Hải phối hợp cùng Khoa Luật Đại học Nhân dân Trung Quốc đồng tổ chức Phiên thứ tư “Chí Chính · Lý thuyết Thực tiễn Song hành” Hội thảo về Xét xử Hình sự (nhấp để xem) tại Tòa án Nhị Thượng Hải. Hội thảo tập trung vào chủ đề “Thống nhất pháp lý trong các vụ án liên quan đến tội phạm rửa tiền qua tiền ảo”, sử dụng hình thức thảo luận “Lý thuyết thực tiễn 2+2”. Sau đây là nội dung hội thảo đã tổng hợp:
Chủ đề 1, Xác định “Chủ quan rõ biết” trong các vụ án rửa tiền qua tiền ảo
Ví dụ 1:
Cai có trong tay lượng lớn U coin, biết qua mạng có người mua U coin với giá cao hơn thị trường 10%, liền liên hệ người mua để bán toàn bộ U coin trong tay, thu lợi 1 triệu nhân dân tệ. Sau này xác minh, nguồn tiền mua U coin của người mua là từ vụ lừa đảo huy động vốn, Cai khai biết hành vi mua bán U coin trên mạng có điểm bất thường.
Ví dụ 2:
Dương mua U coin trên một nền tảng với giá bình thường, sau đó dùng phần mềm nhắn tin Telegram tìm người có nhu cầu đổi U coin, rồi bán với giá cao hơn thị trường 5 phân mỗi U coin. Trong vòng 6 tháng, Dương đã thực hiện hơn 10.000 giao dịch U coin với nhiều người, thu lợi 1,2 triệu nhân dân tệ. Sau này xác minh, số tiền Dương bán U coin có 480 vạn nguồn từ lừa đảo vay mượn của người khác.
Trong thực tiễn, về cách xác định “Chủ quan rõ biết” trong các vụ án rửa tiền qua tiền ảo còn có tranh luận. Như đối với ví dụ 1 và ví dụ 2,
Thứ nhất, quan điểm thứ nhất cho rằng, dựa trên quy luật nhận thức chủ quan đối với khách quan, việc xác định “Chủ quan rõ biết” trong tội rửa tiền nên kết hợp hành vi khách quan của người phạm tội và lý trí thông thường để suy đoán. Trong ví dụ 1, Cai rõ ràng nhận thức được tính bất thường của hành vi giao dịch, và mức giá chênh lệch vượt quá logic thương mại bình thường; trong ví dụ 2, Dương sử dụng phương thức giao dịch tần suất cao, nhỏ lẻ, ẩn danh để liên tục kiếm lợi ổn định, có đặc điểm điển hình của “chạy phân” rửa tiền, cộng với các đặc điểm như số lượng, tần suất giao dịch U coin của Cai và Dương, có thể suy đoán hai người có thể biết nguồn tiền giao dịch U coin đến từ các tội phạm trên thượng nguồn như lừa đảo tài chính và các khoản thu nhập từ các tội phạm đó.
Thứ hai, quan điểm thứ hai cho rằng, cần đánh giá toàn diện “Chủ quan rõ biết” trong các vụ án rửa tiền qua tiền ảo. Trong ví dụ 1, cảm nhận của Cai về tính bất thường của hành vi không đồng nghĩa với việc rõ biết nguồn tiền đến từ bảy loại thu nhập tội phạm thượng nguồn và lợi ích của chúng; trong ví dụ 2, Dương giao dịch U coin tần suất cao, nhỏ lẻ, kiếm lời ít, chưa rõ vượt quá phạm vi hợp lý, chưa đạt mức có thể suy đoán rõ biết. Do đó, trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh có sự thỏa thuận trước, cảnh báo rõ ràng, chỉ thị đặc biệt, liên lạc bất thường, và xem xét toàn diện bối cảnh giao dịch, kinh nghiệm hoạt động, mối quan hệ với người phạm tội thượng nguồn, có thực hiện nghĩa vụ kiểm tra hợp lý hay không, cần thận trọng xác định hành vi có chủ quan rõ biết hay không, để tránh quy tội khách quan không đúng.
Trước những tranh luận trên, trọng tâm là:
Thứ nhất, “Chủ quan rõ biết” có còn là nội dung nhận thức của cố ý trong tội rửa tiền không;
Thứ hai, cách xác định tiêu chuẩn và phương pháp “Chủ quan rõ biết” trong tội rửa tiền qua tiền ảo. Qua thảo luận, hình thành ý kiến xu hướng như sau:
Từ ngày 1 tháng 3 năm 2021, “Sửa đổi Bộ luật Hình sự (mười một)” đã có sửa đổi quan trọng về các điều khoản liên quan đến tội rửa tiền, loại bỏ các thuật ngữ như “ rõ biết” trong điều khoản cũ, thường được hiểu là để phù hợp với yêu cầu sửa đổi luật hình sự về tội phạm hóa hành vi rửa tiền, đồng thời không làm thay đổi cấu trúc tội phạm cố ý của tội rửa tiền, cũng không giảm tiêu chuẩn chứng minh các yếu tố chủ quan trong cấu thành tội phạm này. Dựa trên quy định tổng thể về tội cố ý trong Bộ luật Hình sự và yêu cầu trách nhiệm, “Chủ quan rõ biết” vẫn là yếu tố bắt buộc của tội rửa tiền, tức là yêu cầu hành vi rõ ràng biết hoặc phải biết đối tượng che giấu, che đậy là nguồn gốc của bảy loại thu nhập tội phạm thượng nguồn và lợi ích của chúng. Nếu hành vi thực sự không rõ nguồn gốc và tính chất của đối tượng hành vi, thì không cấu thành tội rửa tiền. Do tội rửa tiền và tội che giấu, che đậy thu nhập tội phạm, thu nhập từ tội phạm là các quy định đặc thù và quy định chung, khi hai tội đồng phạm, nên ưu tiên áp dụng tội rửa tiền. Ngoài ra, nếu không thể suy đoán hành vi rõ biết đối tượng che giấu, che đậy là thu nhập tội phạm thượng nguồn bảy loại và lợi ích của chúng, thì không cấu thành tội rửa tiền, nhưng dựa trên biểu hiện hành vi bất thường và các căn cứ khác, có thể suy đoán hành vi rõ biết đối tượng che giấu, che đậy là thu nhập tội phạm, thì có thể cấu thành tội che giấu, che đậy thu nhập tội phạm.
Về tiêu chuẩn và phương pháp xác định “Chủ quan rõ biết” trong tội rửa tiền qua tiền ảo, cần nắm vững bốn khía cạnh sau:
Thứ nhất, yếu tố chủ quan rõ biết trong tội tự rửa tiền không cần chứng minh đặc biệt. Hành vi thực hiện bảy loại tội thượng nguồn theo quy định của luật hình sự, rồi tiếp tục thực hiện hành vi che giấu, che đậy thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng, thì rõ ràng biết nguồn gốc và tính chất của đối tượng rửa tiền. Nhưng đối với rửa tiền giúp người khác, thì cần dựa trên quy tắc xét xử chứng cứ để đánh giá xem hành vi có chủ quan biết hoặc phải biết đối tượng che giấu, che đậy là thu nhập tội phạm thượng nguồn và lợi ích của chúng hay không.
Thứ hai, “Rửa tiền giúp người khác” có hai loại chủ quan rõ biết: “biết hoặc phải biết”. Không bao gồm “có thể biết”, cũng không thể dựa vào cảm giác hành vi bất thường để xác định chủ quan rõ biết. Để xác định hành vi có chủ quan rõ biết, trong thực tiễn thường dùng phương pháp chứng cứ chứng minh và suy đoán thực tế. Từ ngày 20 tháng 8 năm 2024, “Giải thích về việc thi hành luật trong các vụ án hình sự rửa tiền” của Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (sau đây gọi là “Giải thích về thi hành luật rửa tiền”), đã duy trì mô hình “suy đoán thực tế có thể phản bác”. Việc xác định hành vi biết nguồn gốc và tính chất của đối tượng rửa tiền chủ yếu dựa vào lời khai, lời khai của đồng phạm hoặc nhân chứng, hồ sơ liên lạc, các chứng cứ trực tiếp khác; còn việc hành vi “phải biết” thì dựa vào “suy đoán thực tế có thể phản bác”, tức là dựa trên thông tin hành vi tiếp xúc, nhận, xử lý của người phạm tội, tình hình chuyển, đổi dạng thu nhập tội phạm, loại, số lượng, phương thức chuyển, đổi, các bất thường trong giao dịch và tài khoản, kết hợp với kinh nghiệm nghề nghiệp, mối quan hệ với người phạm tội thượng nguồn và các chứng cứ khác của toàn bộ vụ án để đánh giá, xác định.
Thứ ba, suy đoán thực tế không phải là giả định pháp lý, mà là phương pháp chứng minh tư pháp phù hợp với quy luật khách quan. Các thực tế dựa trên suy đoán thường là các “tiền đề” của vụ án và các “kết quả” của vụ án, phải xác minh rõ ràng, không dựa vào suy đoán để tránh “suy đoán kép”. Dựa trên các thực tế và chứng cứ cơ sở, vận dụng kiến thức thông thường, lý trí, lý lẽ thông thường, hình thành các thực tế suy đoán. Để đảm bảo độ tin cậy của phương pháp suy đoán thực tế, tức là để tránh các trường hợp đặc biệt hoặc ngoại lệ, cần hiểu chính xác và nắm vững quy tắc “loại trừ chứng cứ phản bác” trong “Giải thích về thi hành luật rửa tiền”, tức là chú trọng tạo cơ hội cho hành vi biện hộ, phản bác hoặc cung cấp chứng cứ phản biện; nếu có chứng cứ chứng minh hành vi không biết nguồn gốc và tính chất của đối tượng hành vi, thì suy đoán không thành lập, theo pháp luật không xác định là tội rửa tiền. Cần chú ý rằng, bất kể tiêu chuẩn và phương pháp xác định nào, mức độ rõ biết chỉ cần chứng minh hành vi biết hoặc phải biết nguồn gốc của đối tượng rửa tiền đến từ bảy loại tội thượng nguồn. Nói cách khác, “biết hoặc phải biết” là tổng quát hóa nhận thức về tội phạm thượng nguồn, không yêu cầu chính xác tên tội danh, càng không yêu cầu đạt mức “cấu kết” rõ biết với người phạm tội thượng nguồn.
Thứ tư, trong các vụ án rửa tiền qua tiền ảo, xác định chủ quan rõ biết cần đặc biệt chú ý đặc điểm của tiền ảo. Tiền ảo không có vị trí pháp lý như tiền tệ chính thức, không có khả năng thanh toán pháp lý, không thể và không nên coi là tiền tệ lưu thông trên thị trường. Các loại tiền ổn định (stablecoin) và các loại tiền ảo khác hiện nay chưa thể đáp ứng hiệu quả các yêu cầu về nhận dạng khách hàng, phòng chống rửa tiền. Các hoạt động như đổi tiền pháp định sang tiền ảo, đổi tiền ảo sang tiền ảo khác đều thuộc hoạt động tài chính phi hợp pháp. Do đó, trong các vụ án liên quan đến rửa tiền qua tiền ảo, có thể xem xét toàn diện hành vi người phạm về việc lựa chọn chuyển, đổi tiền qua tiền ảo, các tình huống bất thường trong giao dịch, tài khoản, số lượng, tần suất, đặc biệt là kinh nghiệm nghề nghiệp, thông tin tiếp xúc, nhận, mối quan hệ hoặc hồ sơ liên lạc với người phạm tội thượng nguồn, để xác định chính xác hành vi có chủ quan rõ biết hay không.
Từ đó, trong ví dụ 1 và ví dụ 2, chỉ dựa vào yếu tố bất thường trong hành vi giao dịch để suy đoán hành vi rõ biết nguồn tiền còn có nghi vấn, để suy đoán rõ biết nguồn tiền đến từ bảy loại tội thượng nguồn cần thêm nhiều chứng cứ hỗ trợ, do đó, quan điểm thứ hai trong thực tiễn tư pháp xem xét toàn diện hơn, hợp lý hơn.
Chủ đề 2, Xác định loại hành vi và tiêu chuẩn hoàn thành của tội rửa tiền qua tiền ảo
Ví dụ 3:
Vương Mậu lấy 9 triệu nhân dân tệ tham nhũng, nhiều lần qua phương thức ngoại tuyến mua U coin của các nhà giao dịch, sau đó bỏ trốn ra nước ngoài, nhờ Lý Mậu, người kinh doanh tiền ảo tại Mỹ, đổi toàn bộ U coin của mình thành đô la Mỹ, Lý Mậu thu phí dịch vụ 1,5%.
(# Ví dụ 4:
Trương Mậu trong nội địa lợi dụng huy động vốn bất hợp pháp thu lợi 50 triệu nhân dân tệ, để chuyển tài sản ra nước ngoài, đã thỏa thuận với Lý Mậu ở nước ngoài, nhờ Lý Mậu dùng tiền ảo cung cấp dịch vụ rửa tiền, thu phí 15%. Trương Mậu dùng nhiều thẻ ngân hàng mua U coin tương đương, sau đó chuyển toàn bộ U coin trong ví sang tài khoản A của Lý Mậu đăng ký tại sàn giao dịch tiền ảo ở nước ngoài, giao dịch này để lại dấu vết trên blockchain. Lý Mậu lại qua nhiều lần “làm sạch” và trung chuyển, chuyển U coin đã “làm sạch” vào tài khoản B của sàn giao dịch tiền ảo ở quốc gia khác, rồi bán ra thành đô la Mỹ qua hình thức OTC, gửi vào tài khoản đô la Mỹ của Trương Mậu ở nước ngoài.
Trong thực tiễn, còn có ý kiến tranh luận về việc chuyển tài sản ra nước ngoài qua tiền ảo thuộc loại hình rửa tiền nào, và cách xác định tiêu chuẩn hoàn thành của tội rửa tiền. Như đối với ví dụ 3 và ví dụ 4.
Thứ nhất, quan điểm thứ nhất cho rằng, khi Vương Mậu chuyển U coin vào ví kiểm soát của mình, Trương Mậu chuyển U coin vào ví A do Lý Mậu cung cấp, đều thuộc “chuyển tài sản xuyên biên giới”, và đều đã hoàn thành. Chuyển tiền qua blockchain của tiền ảo có tính tức thời, kỹ thuật cao, không biên giới, hành vi của người phạm đã chuyển đổi thành công tài sản phạm tội thành U coin, đã thực hiện kiểm soát hiệu quả và offshore hóa thu nhập phạm tội, hành vi rửa tiền đã có đặc điểm xuyên biên giới khi xảy ra chuyển đổi kỹ thuật U coin.
Thứ hai, quan điểm thứ hai cho rằng, hành vi hoàn thành khi chuyển đổi U coin thành tiền pháp định. Chỉ khi chuyển đổi thành tiền pháp định có tính phổ biến như đô la Mỹ, thì thu nhập phạm tội mới thực sự “sạch”. Các bước đổi và chuyển U coin trước đó chỉ là các bước trung gian, chỉ khi thực sự chuyển đổi giá trị phạm tội thành tiền tệ có thể lưu thông rộng rãi mới gọi là “làm sạch” hoàn chỉnh. Quan điểm thứ ba cho rằng, cần thoát khỏi khái niệm biên giới vật lý, lấy việc tiền thoát khỏi khu vực pháp lý ban đầu của hành vi và do hành vi kiểm soát thực tế của người phạm làm tiêu chuẩn hoàn thành “chuyển tài sản xuyên biên giới”. Khi Vương Mậu, Trương Mậu chuyển U coin vào ví ẩn danh không chịu sự pháp lý của Trung Quốc, thì nguy cơ chính của hành vi rửa tiền đã xảy ra, và thời điểm này có thể xác định là đã hoàn thành tội phạm.
Trước những tranh luận trên, trọng tâm là:
Thứ nhất, làm thế nào để nắm bắt bản chất của hành vi rửa tiền và tiêu chuẩn hoàn thành;
Thứ hai, rửa tiền qua tiền ảo thuộc loại hành vi nào, và cách xác định tiêu chuẩn hoàn thành tội phạm ra sao. Qua thảo luận, hình thành ý kiến xu hướng như sau:
Về bản chất hành vi rửa tiền và tiêu chuẩn hoàn thành, cần nắm vững ba khía cạnh sau:
Thứ nhất, chính xác nắm bắt “che giấu, làm rõ nguồn gốc và tính chất của thu nhập tội phạm” là bản chất của tội phạm. Trong thực tiễn, có quan điểm hạn chế rửa tiền trong phạm vi “làm rõ tiền bẩn” hoặc “thao tác qua các tổ chức tài chính” hoặc “tập trung vào phương thức, ít chú ý đối tượng”. Thực tế, bất kể hành vi nào thực hiện chuyển đổi vị trí, hình thái của thu nhập tội phạm, đều thuộc rửa tiền. Bộ luật Hình sự rõ ràng đánh giá riêng hành vi tự rửa tiền, nếu hành vi sau khi thực hiện tội thượng nguồn còn thực hiện chuyển đổi, đổi dạng như mua nhà, mua xe, che giấu nguồn gốc và tính chất của thu nhập tội phạm, có ý định và hành vi rửa tiền, thì coi là rửa tiền, không còn là hành vi tự nhiên của tội phạm thượng nguồn nữa, từ góc độ trách nhiệm hình sự và hình phạt, không còn chỉ xác định tội thượng nguồn nữa.
Thứ hai, hành vi che giấu, làm rõ nguồn gốc và tính chất của thu nhập tội phạm, theo quy định của cấu thành tội rửa tiền, đã đủ là tội hoàn thành. Thu nhập tội phạm qua các bước rửa tiền, liệu đã không thể truy cứu nguồn gốc và tính chất của nó, mang tính tương đối, không ảnh hưởng đến việc xác định tội hoàn thành.
Thứ ba, cần kiên quyết trấn áp tội rửa tiền, kiên quyết bảo vệ an ninh tài chính quốc gia. Đối mặt với tình hình mới, các phương thức mới, thủ đoạn mới, đặc điểm mới của tội rửa tiền, cần nắm rõ đặc điểm bản chất của hành vi rửa tiền và các yếu tố cấu thành chủ quan khách quan, nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội rửa tiền.
Về loại hành vi và tiêu chuẩn hoàn thành của tội rửa tiền qua tiền ảo, một mặt, tội rửa tiền áp dụng phương pháp “liệt kê + bổ sung”, phân loại các hành vi rửa tiền. Tổng thể, rửa tiền gồm hai loại hành vi chính là chuyển đổi, chuyển dịch thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng, cùng một số hình thức cụ thể. Trong thực tiễn, do phần lớn hành vi thực hiện qua tiền ảo để chuyển tài sản ra khỏi nước, nên có quan điểm cho rằng thuộc loại “chuyển tài sản xuyên biên giới”. Tuy nhiên, cách hiểu này sẽ dẫn đến vấn đề xác định biên giới quốc gia và tiêu chuẩn hoàn thành. “Giải thích về thi hành luật trong các vụ án hình sự rửa tiền” của Điều 5, khoản 6, đã xác định rõ việc chuyển, đổi thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng qua hình thức giao dịch “tài sản ảo” là một trong các phương thức rửa tiền, góp phần giải quyết tranh luận trên, đồng thời giúp xác định tiêu chuẩn hoàn thành tội rửa tiền qua tiền ảo.
Mặt khác, theo quy định của “Giải thích về thi hành luật trong các vụ án hình sự rửa tiền”, việc chuyển, đổi thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng qua hình thức giao dịch “tài sản ảo” đã đủ là tội rửa tiền hoàn thành. Dù tiền ảo không có vị trí pháp lý như tiền tệ chính thức và không có khả năng thanh toán pháp lý, nhưng dựa trên giá trị quy đổi thực tế, khả năng chi tiêu và thực tiễn liên quan, tiền ảo có tính chất tài sản, có thể xếp vào “tài sản ảo” theo quy định trong giải thích. Hơn nữa, chỉ cần xảy ra giao dịch tài sản ảo, đã có thể sinh ra kết quả chuyển đổi, chuyển dịch thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng. Do đó, hành vi đổi tiền phạm tội thành tiền ảo, tài sản truyền thống biến thành tài sản ảo trên blockchain, đã hoàn thành chuyển đổi vị trí và hình thái, tội rửa tiền đã đủ.
Từ đó, trong ví dụ 3, 4, các quan điểm đều có điểm chưa phù hợp. Hành vi của Vương Mậu, Trương Mậu thuộc dạng chuyển đổi, chuyển dịch thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng qua hình thức giao dịch “tài sản ảo”, khi đổi ra tiền ảo đã hoàn thành chuyển đổi thu nhập phạm tội và lợi ích của chúng, tội rửa tiền đã đủ. Nếu xét đến hành vi của người phạm trong việc gom hoặc phân tán, luân chuyển tiền giữa các tài khoản khác nhau để đổi, chuyển, thì thời điểm hoàn thành tội phạm còn sớm hơn nữa.
Chủ đề 3, Xác định tội phạm kinh doanh trái phép liên quan đến tiền ảo
Ví dụ 5:
Lý Mậu phát hiện mua bán tiền ảo có lợi, mở tài khoản trong và ngoài nước để thực hiện hoạt động “mua bán chênh lệch” tiền ảo, mua U coin giá thấp rồi bán ra với giá cao hơn, hoặc mua U coin giá thấp bằng đô la Mỹ rồi bán ra bằng nhân dân tệ giá cao, trong nhiều năm thu lợi chênh lệch 1.000 vạn nhân dân tệ.
(# Ví dụ 6:
Hồ Mậu kinh doanh mua bán tiền ảo tại Mỹ, có khách hàng Trung Quốc cần đổi đô la Mỹ, có khách hàng Mỹ cần đổi nhân dân tệ, do đó Hồ Mậu giúp khách hàng Trung Quốc đổi U coin thành đô la Mỹ rồi chuyển vào tài khoản nước ngoài của khách hàng, cũng giúp khách hàng Mỹ đổi U coin thành nhân dân tệ rồi chuyển vào tài khoản trong nước của khách hàng, thu phí hơn 3 triệu nhân dân tệ.
Trong thực tiễn, còn có tranh luận về việc sử dụng tiền ảo để chuyển đổi hai chiều ngoại tệ có thuộc loại “giao dịch ngoại hối trá hình” hay không. Như đối với ví dụ 5 và ví dụ 6.
Thứ nhất, quan điểm thứ nhất cho rằng, hành vi của Lý Mậu, Hồ Mậu đều thuộc dạng “giao dịch ngoại hối trá hình”, cấu thành tội phạm kinh doanh trái phép. Thực chất, hành vi này trong bối cảnh xuyên biên giới, sử dụng tiền ảo làm trung gian, hoàn thành việc đổi tiền nhân dân tệ sang đô la Mỹ, phù hợp đặc điểm của “giao dịch ngoại hối trá hình”, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự quản lý ngoại hối của quốc gia.
Thứ hai, quan điểm thứ hai cho rằng, Lý Mậu, Hồ Mậu không cấu thành tội phạm kinh doanh trái phép. Hành vi chuyển đổi tiền tệ qua liên kết U coin và mua bán ngoại hối không trực tiếp đồng nhất, hơn nữa Lý Mậu không có chủ ý giúp người khác đổi ngoại hối, chỉ là khách quan gây ra sự chuyển đổi giữa các loại tiền tệ; hoạt động của Hồ Mậu tại Mỹ được pháp luật địa phương cho phép. Hai người giao dịch chủ yếu liên quan đến tiền ảo chứ không phải ngoại hối, không phù hợp để xác định là tội phạm kinh doanh trái phép; nếu có chứng cứ chứng minh hành vi của hai người phù hợp các yếu tố cấu thành tội rửa tiền, thì có thể xử lý theo tội rửa tiền.
Trước những tranh luận trên, trọng tâm là: hành vi sử dụng tiền ảo làm trung gian để đổi ngoại tệ, có thuộc dạng “giao dịch ngoại hối trá hình” trái phép hay không, và nếu có, có thể xử lý hình sự tội phạm này như thế nào. Qua thảo luận, hình thành ý kiến xu hướng như sau:
Về việc xác định hành vi rửa tiền qua tiền ảo và tiêu chuẩn hoàn thành, cần nắm vững ba khía cạnh sau:
Thứ nhất, hành vi kinh doanh trái phép trong tội rửa tiền qua tiền ảo, dựa trên đặc điểm của hành vi, có thể phân thành hai loại: hành vi kinh doanh có tính chất thường xuyên, có mục đích lợi nhuận, hoặc hành vi cá nhân không nhằm mục đích kinh doanh. Đối với hoạt động của các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động như OTC, đổi tiền ảo, làm thị trường, cung cấp dịch vụ định giá, phát hành token, giao dịch phái sinh tiền ảo, đều thuộc hoạt động kinh doanh trái phép. Còn hành vi của cá nhân chỉ giữ, mua, bán, đầu cơ, không có tính chất thường xuyên, không nhằm mục đích lợi nhuận, thì không thuộc phạm vi này.
Thứ hai, dựa trên đặc điểm của tội rửa tiền, từ thực chất, đánh giá hành vi có vi phạm quy định của nhà nước hay không, và có gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự tài chính, để phân biệt tội phạm hay không. Nếu hành vi dùng tiền ảo làm trung gian, tránh né quản lý ngoại hối của nhà nước, cung cấp dịch vụ đổi tiền nhân dân tệ sang đô la Mỹ hoặc ngược lại, và có đặc điểm thu phí hoặc chênh lệch tỷ giá, thì thuộc dạng “giao dịch ngoại hối trá hình” trái phép, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự ngoại hối, có thể cấu thành tội kinh doanh trái phép.
Thứ ba, dựa trên các yếu tố chủ quan khách quan, xác định chính xác hành vi có phải là đồng phạm hay không. Trong các mô hình phức tạp như chuyển tiền xuyên biên giới, giao dịch nhiều tầng, vận hành theo chuỗi, tổ chức, nhóm rõ ràng, như biết rõ hành vi mua bán trái phép hoặc trá hình ngoại hối của người khác, hoặc có thỏa thuận trước, giúp đỡ qua các hình thức giao dịch tiền ảo, thì có thể xử lý theo tội phạm đồng phạm về tội kinh doanh trái phép.
Từ đó, trong ví dụ 5, nếu hành vi của Lý Mậu không có đặc điểm hoạt động kinh doanh, chỉ là cá nhân giữ, mua, bán, đầu cơ, thì thường không cấu thành tội kinh doanh trái phép. Nhưng nếu rõ ràng biết người khác mua bán trá hình ngoại hối, vẫn giúp đỡ qua đổi tiền ảo, có thể coi là đồng phạm tội này nếu hành vi gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong ví dụ 6, hành vi của Hồ Mậu có đặc điểm hoạt động kinh doanh, có mục đích lợi nhuận rõ ràng, và biết rõ người khác muốn thực hiện đổi tiền qua các sàn ngoài quy định, vẫn cung cấp dịch vụ “đổi tiền nội địa - tiền ảo - ngoại tệ” trái phép, thu lợi hơn 3 triệu nhân dân tệ, nên có thể xác định là tội kinh doanh trái phép.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội và Pháp chế của Ủy ban Chính trị và Pháp luật Thành phố Thượng Hải, Nguyên Phó Viện trưởng Tòa án Thượng Hải Huang Xiangqing:
Thứ nhất, về xác định “Chủ quan rõ biết” trong tội rửa tiền qua tiền ảo, “Chủ quan rõ biết” là yếu tố bắt buộc của tội cố ý. Có hai phương pháp xác định yếu tố chủ quan: chứng cứ chứng minh và suy đoán thực tế. Khi dùng phương pháp suy đoán thực tế, cần chú trọng tạo cơ hội cho người phạm tội biện hộ, phản bác.
Thứ hai, về xác định tiêu chuẩn hoàn thành “Xác minh chuyển tài sản xuyên biên giới” trong các vụ án rửa tiền qua tiền ảo, tiêu chuẩn của hoàn thành nên dựa trên trạng thái phổ biến của tội phạm tại thời điểm xảy ra vụ án. Do đó, tội rửa tiền thường được xác định là tội hành vi.
Thứ ba, về xác định tội phạm kinh doanh trái phép liên quan đến tiền ảo, trước tiên cần chú trọng đặc điểm của tội này là quyền lợi pháp lý bị xâm phạm; thứ hai, trong đánh giá cụ thể, cần chú ý tính toàn diện của hành vi, không thể cắt khúc để kết luận; cuối cùng, cần chú ý tính phù hợp của các yếu tố cấu thành, hành vi kinh doanh trái phép thường có tính giai đoạn, lặp đi lặp lại và mục đích trục lợi trái pháp luật.
Phó Chủ tịch Hội Luật Học Chứng khoán Trung Quốc, Hiệu trưởng Đại học Nhân dân Trung Quốc, Dương Đông:
Thứ nhất, về xác định chủ quan, trong bối cảnh chưa có luật về tiền ảo, thiếu quản lý tài chính, cần kết hợp đặc điểm quốc gia và chính sách liên quan, thận trọng trong sử dụng suy đoán, kiểm soát chặt chẽ phạm vi xác định rõ biết.
Thứ hai, về xác định hoàn thành tội rửa tiền, cần thừa nhận đặc tính tài sản của tiền ảo trong quan điểm pháp luật thống nhất, phủ nhận đặc tính tài chính của nó, coi chuyển đổi hình thái thực chất của tài sản phạm tội, như chuyển từ tài sản dưới chuỗi sang trên chuỗi, là tiêu chuẩn hoàn thành, để xử lý nghiêm tội rửa tiền.
Thứ ba, về xác định tội kinh doanh trái phép liên quan đến tiền ảo, cần dựa trên các yếu tố luật định, xem xét đặc điểm phi tập trung, không biên giới, biến động lớn của giá trị của tiền ảo, đồng thời thực hiện chính sách cấm hoạt động của ngân hàng trung ương đối với các nền tảng giao dịch tiền ảo, phân biệt rõ hoạt động của nền tảng và hoạt động cá nhân phù hợp nhu cầu cộng đồng, phân biệt rõ hành vi trái pháp luật trong nước và hoạt động hợp pháp ở nước ngoài, nhằm vừa trấn áp tội phạm, vừa phòng ngừa rủi ro từ tiền ảo xuyên biên giới, đồng thời đáp ứng nhu cầu thực tế của cộng đồng, tránh mở rộng phạm vi trấn áp không phù hợp, góp phần xây dựng pháp trị đối ngoại, để nhân dân cảm nhận rõ công lý của tư pháp.
Xem bản gốc
Trang này có thể chứa nội dung của bên thứ ba, được cung cấp chỉ nhằm mục đích thông tin (không phải là tuyên bố/bảo đảm) và không được coi là sự chứng thực cho quan điểm của Gate hoặc là lời khuyên về tài chính hoặc chuyên môn. Xem Tuyên bố từ chối trách nhiệm để biết chi tiết.
Xung quanh tội phạm tiền điện tử "cùng vụ nhưng xử khác nhau"? Bản ghi chú hội thảo của Tòa án Nhị trung Thượng Hải đã đưa ra câu trả lời
Chịu trách nhiệm | Trạch Quần, Tòa án Nhị Trung Thượng Hải
Biên tập nội dung | Lý Phùng, Từ Hán Thành
Biên tập trang | Chu Yên Vũ
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, Hội Nghiên cứu Luật Hình sự Trung Quốc, Tòa án Nhất Thượng Thượng Hải hướng dẫn, Tòa án Nhị Thượng Hải phối hợp cùng Khoa Luật Đại học Nhân dân Trung Quốc đồng tổ chức Phiên thứ tư “Chí Chính · Lý thuyết Thực tiễn Song hành” Hội thảo về Xét xử Hình sự (nhấp để xem) tại Tòa án Nhị Thượng Hải. Hội thảo tập trung vào chủ đề “Thống nhất pháp lý trong các vụ án liên quan đến tội phạm rửa tiền qua tiền ảo”, sử dụng hình thức thảo luận “Lý thuyết thực tiễn 2+2”. Sau đây là nội dung hội thảo đã tổng hợp:
Chủ đề 1, Xác định “Chủ quan rõ biết” trong các vụ án rửa tiền qua tiền ảo
Ví dụ 1:
Cai có trong tay lượng lớn U coin, biết qua mạng có người mua U coin với giá cao hơn thị trường 10%, liền liên hệ người mua để bán toàn bộ U coin trong tay, thu lợi 1 triệu nhân dân tệ. Sau này xác minh, nguồn tiền mua U coin của người mua là từ vụ lừa đảo huy động vốn, Cai khai biết hành vi mua bán U coin trên mạng có điểm bất thường.
Ví dụ 2:
Dương mua U coin trên một nền tảng với giá bình thường, sau đó dùng phần mềm nhắn tin Telegram tìm người có nhu cầu đổi U coin, rồi bán với giá cao hơn thị trường 5 phân mỗi U coin. Trong vòng 6 tháng, Dương đã thực hiện hơn 10.000 giao dịch U coin với nhiều người, thu lợi 1,2 triệu nhân dân tệ. Sau này xác minh, số tiền Dương bán U coin có 480 vạn nguồn từ lừa đảo vay mượn của người khác.
Trong thực tiễn, về cách xác định “Chủ quan rõ biết” trong các vụ án rửa tiền qua tiền ảo còn có tranh luận. Như đối với ví dụ 1 và ví dụ 2,
Trước những tranh luận trên, trọng tâm là:
Từ ngày 1 tháng 3 năm 2021, “Sửa đổi Bộ luật Hình sự (mười một)” đã có sửa đổi quan trọng về các điều khoản liên quan đến tội rửa tiền, loại bỏ các thuật ngữ như “ rõ biết” trong điều khoản cũ, thường được hiểu là để phù hợp với yêu cầu sửa đổi luật hình sự về tội phạm hóa hành vi rửa tiền, đồng thời không làm thay đổi cấu trúc tội phạm cố ý của tội rửa tiền, cũng không giảm tiêu chuẩn chứng minh các yếu tố chủ quan trong cấu thành tội phạm này. Dựa trên quy định tổng thể về tội cố ý trong Bộ luật Hình sự và yêu cầu trách nhiệm, “Chủ quan rõ biết” vẫn là yếu tố bắt buộc của tội rửa tiền, tức là yêu cầu hành vi rõ ràng biết hoặc phải biết đối tượng che giấu, che đậy là nguồn gốc của bảy loại thu nhập tội phạm thượng nguồn và lợi ích của chúng. Nếu hành vi thực sự không rõ nguồn gốc và tính chất của đối tượng hành vi, thì không cấu thành tội rửa tiền. Do tội rửa tiền và tội che giấu, che đậy thu nhập tội phạm, thu nhập từ tội phạm là các quy định đặc thù và quy định chung, khi hai tội đồng phạm, nên ưu tiên áp dụng tội rửa tiền. Ngoài ra, nếu không thể suy đoán hành vi rõ biết đối tượng che giấu, che đậy là thu nhập tội phạm thượng nguồn bảy loại và lợi ích của chúng, thì không cấu thành tội rửa tiền, nhưng dựa trên biểu hiện hành vi bất thường và các căn cứ khác, có thể suy đoán hành vi rõ biết đối tượng che giấu, che đậy là thu nhập tội phạm, thì có thể cấu thành tội che giấu, che đậy thu nhập tội phạm.
Về tiêu chuẩn và phương pháp xác định “Chủ quan rõ biết” trong tội rửa tiền qua tiền ảo, cần nắm vững bốn khía cạnh sau:
Từ đó, trong ví dụ 1 và ví dụ 2, chỉ dựa vào yếu tố bất thường trong hành vi giao dịch để suy đoán hành vi rõ biết nguồn tiền còn có nghi vấn, để suy đoán rõ biết nguồn tiền đến từ bảy loại tội thượng nguồn cần thêm nhiều chứng cứ hỗ trợ, do đó, quan điểm thứ hai trong thực tiễn tư pháp xem xét toàn diện hơn, hợp lý hơn.
Chủ đề 2, Xác định loại hành vi và tiêu chuẩn hoàn thành của tội rửa tiền qua tiền ảo
Ví dụ 3:
Vương Mậu lấy 9 triệu nhân dân tệ tham nhũng, nhiều lần qua phương thức ngoại tuyến mua U coin của các nhà giao dịch, sau đó bỏ trốn ra nước ngoài, nhờ Lý Mậu, người kinh doanh tiền ảo tại Mỹ, đổi toàn bộ U coin của mình thành đô la Mỹ, Lý Mậu thu phí dịch vụ 1,5%.
(# Ví dụ 4:
Trương Mậu trong nội địa lợi dụng huy động vốn bất hợp pháp thu lợi 50 triệu nhân dân tệ, để chuyển tài sản ra nước ngoài, đã thỏa thuận với Lý Mậu ở nước ngoài, nhờ Lý Mậu dùng tiền ảo cung cấp dịch vụ rửa tiền, thu phí 15%. Trương Mậu dùng nhiều thẻ ngân hàng mua U coin tương đương, sau đó chuyển toàn bộ U coin trong ví sang tài khoản A của Lý Mậu đăng ký tại sàn giao dịch tiền ảo ở nước ngoài, giao dịch này để lại dấu vết trên blockchain. Lý Mậu lại qua nhiều lần “làm sạch” và trung chuyển, chuyển U coin đã “làm sạch” vào tài khoản B của sàn giao dịch tiền ảo ở quốc gia khác, rồi bán ra thành đô la Mỹ qua hình thức OTC, gửi vào tài khoản đô la Mỹ của Trương Mậu ở nước ngoài.
![])https://img-cdn.gateio.im/webp-social/moments-26f2cf1462c9ed0f32553ae3cbe8dd58.webp###
Trong thực tiễn, còn có ý kiến tranh luận về việc chuyển tài sản ra nước ngoài qua tiền ảo thuộc loại hình rửa tiền nào, và cách xác định tiêu chuẩn hoàn thành của tội rửa tiền. Như đối với ví dụ 3 và ví dụ 4.
Trước những tranh luận trên, trọng tâm là:
Về bản chất hành vi rửa tiền và tiêu chuẩn hoàn thành, cần nắm vững ba khía cạnh sau:
Về loại hành vi và tiêu chuẩn hoàn thành của tội rửa tiền qua tiền ảo, một mặt, tội rửa tiền áp dụng phương pháp “liệt kê + bổ sung”, phân loại các hành vi rửa tiền. Tổng thể, rửa tiền gồm hai loại hành vi chính là chuyển đổi, chuyển dịch thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng, cùng một số hình thức cụ thể. Trong thực tiễn, do phần lớn hành vi thực hiện qua tiền ảo để chuyển tài sản ra khỏi nước, nên có quan điểm cho rằng thuộc loại “chuyển tài sản xuyên biên giới”. Tuy nhiên, cách hiểu này sẽ dẫn đến vấn đề xác định biên giới quốc gia và tiêu chuẩn hoàn thành. “Giải thích về thi hành luật trong các vụ án hình sự rửa tiền” của Điều 5, khoản 6, đã xác định rõ việc chuyển, đổi thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng qua hình thức giao dịch “tài sản ảo” là một trong các phương thức rửa tiền, góp phần giải quyết tranh luận trên, đồng thời giúp xác định tiêu chuẩn hoàn thành tội rửa tiền qua tiền ảo.
Mặt khác, theo quy định của “Giải thích về thi hành luật trong các vụ án hình sự rửa tiền”, việc chuyển, đổi thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng qua hình thức giao dịch “tài sản ảo” đã đủ là tội rửa tiền hoàn thành. Dù tiền ảo không có vị trí pháp lý như tiền tệ chính thức và không có khả năng thanh toán pháp lý, nhưng dựa trên giá trị quy đổi thực tế, khả năng chi tiêu và thực tiễn liên quan, tiền ảo có tính chất tài sản, có thể xếp vào “tài sản ảo” theo quy định trong giải thích. Hơn nữa, chỉ cần xảy ra giao dịch tài sản ảo, đã có thể sinh ra kết quả chuyển đổi, chuyển dịch thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng. Do đó, hành vi đổi tiền phạm tội thành tiền ảo, tài sản truyền thống biến thành tài sản ảo trên blockchain, đã hoàn thành chuyển đổi vị trí và hình thái, tội rửa tiền đã đủ.
Từ đó, trong ví dụ 3, 4, các quan điểm đều có điểm chưa phù hợp. Hành vi của Vương Mậu, Trương Mậu thuộc dạng chuyển đổi, chuyển dịch thu nhập tội phạm và lợi ích của chúng qua hình thức giao dịch “tài sản ảo”, khi đổi ra tiền ảo đã hoàn thành chuyển đổi thu nhập phạm tội và lợi ích của chúng, tội rửa tiền đã đủ. Nếu xét đến hành vi của người phạm trong việc gom hoặc phân tán, luân chuyển tiền giữa các tài khoản khác nhau để đổi, chuyển, thì thời điểm hoàn thành tội phạm còn sớm hơn nữa.
Chủ đề 3, Xác định tội phạm kinh doanh trái phép liên quan đến tiền ảo
Ví dụ 5:
Lý Mậu phát hiện mua bán tiền ảo có lợi, mở tài khoản trong và ngoài nước để thực hiện hoạt động “mua bán chênh lệch” tiền ảo, mua U coin giá thấp rồi bán ra với giá cao hơn, hoặc mua U coin giá thấp bằng đô la Mỹ rồi bán ra bằng nhân dân tệ giá cao, trong nhiều năm thu lợi chênh lệch 1.000 vạn nhân dân tệ.
(# Ví dụ 6:
Hồ Mậu kinh doanh mua bán tiền ảo tại Mỹ, có khách hàng Trung Quốc cần đổi đô la Mỹ, có khách hàng Mỹ cần đổi nhân dân tệ, do đó Hồ Mậu giúp khách hàng Trung Quốc đổi U coin thành đô la Mỹ rồi chuyển vào tài khoản nước ngoài của khách hàng, cũng giúp khách hàng Mỹ đổi U coin thành nhân dân tệ rồi chuyển vào tài khoản trong nước của khách hàng, thu phí hơn 3 triệu nhân dân tệ.
![])https://img-cdn.gateio.im/webp-social/moments-f786e6460093df0a68b023b0ed2ea312.webp###
Trong thực tiễn, còn có tranh luận về việc sử dụng tiền ảo để chuyển đổi hai chiều ngoại tệ có thuộc loại “giao dịch ngoại hối trá hình” hay không. Như đối với ví dụ 5 và ví dụ 6.
Trước những tranh luận trên, trọng tâm là: hành vi sử dụng tiền ảo làm trung gian để đổi ngoại tệ, có thuộc dạng “giao dịch ngoại hối trá hình” trái phép hay không, và nếu có, có thể xử lý hình sự tội phạm này như thế nào. Qua thảo luận, hình thành ý kiến xu hướng như sau:
Về việc xác định hành vi rửa tiền qua tiền ảo và tiêu chuẩn hoàn thành, cần nắm vững ba khía cạnh sau:
Từ đó, trong ví dụ 5, nếu hành vi của Lý Mậu không có đặc điểm hoạt động kinh doanh, chỉ là cá nhân giữ, mua, bán, đầu cơ, thì thường không cấu thành tội kinh doanh trái phép. Nhưng nếu rõ ràng biết người khác mua bán trá hình ngoại hối, vẫn giúp đỡ qua đổi tiền ảo, có thể coi là đồng phạm tội này nếu hành vi gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong ví dụ 6, hành vi của Hồ Mậu có đặc điểm hoạt động kinh doanh, có mục đích lợi nhuận rõ ràng, và biết rõ người khác muốn thực hiện đổi tiền qua các sàn ngoài quy định, vẫn cung cấp dịch vụ “đổi tiền nội địa - tiền ảo - ngoại tệ” trái phép, thu lợi hơn 3 triệu nhân dân tệ, nên có thể xác định là tội kinh doanh trái phép.
( Tổng kết, Nhận xét
![])https://img-cdn.gateio.im/webp-social/moments-7275d8211fc104ce39faae76f1534dae.webp(
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội và Pháp chế của Ủy ban Chính trị và Pháp luật Thành phố Thượng Hải, Nguyên Phó Viện trưởng Tòa án Thượng Hải Huang Xiangqing:
![])https://img-cdn.gateio.im/webp-social/moments-c4c8945fb7384bd3c5dd3027f9ef5dec.webp
Phó Chủ tịch Hội Luật Học Chứng khoán Trung Quốc, Hiệu trưởng Đại học Nhân dân Trung Quốc, Dương Đông: